liên hệ
  • Cháu Tự Tôn Đời Thứ 14
    Trần Quang Trị: 055 3857 681
    Email:
  • Cháu Tự Tôn Đời Thứ 16
    Trần Quang Đạo: 01677383416
    Email: tranquangdaodt@gmail.com
  • Thường Trực Ban Quản Trị
    Trần Quang Lục: 0913 447 436
    Email: lucquangtran@yahoo.com
  • Chủ Tịch Hội Đồng Gia Tộc
    Trần Điền: 0121 458 1581
    Email:
  • Ban Liên Lạc Họ Trần Vạn Phước Phía Nam
    Trần Văn Hào: 0983 149 352
    Email: vanhao@ckcauto.com
Tự hào họ trần

Hào Khí Đông A - Hào Khí Nhà Trần

“Hào khí Đông A” đơn giản là “Hào khí thời Trần”, tức khí thế chống giặc ngoại xâm của quân dân nhà Trần, vì chữ “Trần” có thể đọc theo lối chiết tự là “Đông A”.

Có thể nói lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong lịch sử Việt Nam, nhà Trần là một triều đại, đã có thể tạo được sự đồng tâm nhất chí tối cao, trên- dưới, gái-trai,trẻ- già, quân-dân… như một. Ngay cả trong các cuộc kháng chiến của dân tộc ta trước đây và sau này, cũng chưa chắc sánh được.

Sự ra đời và phát triển của triều đại đặc biệt này cho đến nay vẫn còn là một đề tài tranh cãi của nhiều luồng ý kiến khác nhau.

Bởi chỉ riêng sự ra đời của nhà Trần, bản thân nó vốn đã mang rất nhiều điều đặc biệt, khó gặp ở bất cứ đâu, trong lịch sử của bất cứ quốc gia nào.

Nói về xuất xứ nhà Trần, có câu phong sử rằng:

“Một ngày dựa mạn thuyền rồng

     Còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài.”

Phải nhớ lại, lúc bấy giờ, cơ đồ vàng son hơn 200 năm của nhà Lý đã mục ruỗng và thối nát không gì cứu vãn nổi. Nội chiến xảy ra triền miên, vua Lý không còn khả năng điều khiển đất nước, thậm chí không còn khả năng điều khiển được hoạt động của triều đình. Thái tử nhà Lý khi ấy là Lý Hạo Sảm, đã phải bỏ cả hoàng thành mà lưu vong bên ngoài.

Đại Việt sử kí toàn thư ghi lại, vào năm Kỉ Tị 1209:

“Hoàng Thái Tử (Lý Hạo Sảm) chạy đến thôn Lưu Gia ở Hải Ấp, nghe tiếng con gái của Trần Lý là Trần Thị (tức Trần Thị Dung) có nhan sắc đẹp, bèn lấy làm vợ”.

Đây chính là cuộc hôn nhân định mệnh, đưa nhà họ Trần, vốn là một dòng họ giàu có nhờ nghề đánh cá, chính thức bước lên vũ đài chính trị và lịch sử Việt Nam.

Những cái tên như: Trần Lý, Trần Tự Khánh, Trần Thừa, mà nổi bật nhất là Trần Thủ Độ, đã đi vào sử sách.
Nếu Trần Lý, Trần Tự Khánh, Trần Thừa…v.v đã cùng nhau hợp sức dựa vào sự tin dùng, ưu ái của vua Lý để đưa họ Trần lên vị trí một dòng họ có thế lực mạnh mẽ trong triều đình nhà Lý; thì Trần Thủ Độ là người đã đặt nền tảng vững chắc, rồi sau đó là thực hiện kế hoạch “Đổi Lý thay Trần” êm thấm, nhanh gọn đến khó tưởng tượng nổi.

Ngay cả Trần Thị Dung, thân là hoàng hậu triều Lý, nhưng nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã phải nhận xét về bà như sau:

“Công của bà giúp nội trị cho nhà Trần nhiều hơn báo đáp cho nhà Lý. Thế mới biết sinh ra Linh Từ( tức Trần Thị Dung) là để mở mang cơ nghiệp cho nhà Trần vậy.”

Đứng trên quan điểm Nho giáo vốn coi trọng “Tam cang”, “Ngũ thường”, thì việc làm của họ Trần là phản nghịch, . Nhưng nếu nhìn ở góc độ khác, họ Trần “công nhiều hơn tội”. Khi nhà Lý đã mục nát nặng nề, sự tồn tại đã làm trì trệ sự phát triển của dân tộc và đất nước; thì “Đổi Lý thay Trần” chính xác là việc phế lập phù hợp với quy luật hưng vong.

Và thử hỏi, giả sử Trần Thủ Độ năm xưa không dựa vào sự chơi đùa con trẻ giữa Lý Chiêu Hoàng và Trần Cảnh, tiếp tục tác hợp nên một cuộc hôn nhân định mệnh nữa giữa hai họ Lý-Trần, thì lấy đâu ra việc nữ vương Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng- mà sau này chính là Trần Thái Tông anh minh thần võ, lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ nhất; viết nên những trang chiến tích oanh liệt đầu tiên cho hào khí Đông A?
Ngay như Trần Thủ Độ, có thể nói là con người đầy cơ mưu, một tay khai sinh, duy trì và phát triển đế nghiệp cho dòng họ mình, thẳng thừng dẹp bỏ các thế lực chống đối; nhưng bản thân ông cũng là một vị anh hùng dân tộc, khí phách tài ba một đời dốc hết cho sơn hà xã tắc, đáng để đời sau học hỏi.

 

 

Sau khi Trần Cảnh lên làm vua, đất nước dần dần đi vào ổn định và có sự phục hồi, phát triển đáng kể. Một mặt do Trần Thủ Độ chăm lo, củng cố; mặt khác, cũng chính nhờ ở tài năng xuất sắc của Trần Cảnh-Trần Thái Tông.

Hàng năm, triều Trần đều tổ chức lễ ăn thề ở đền Đồng Cổ (phía Tây Hà Nội ngày nay). Tất cả quan lại đều phải tham gia, ai trốn không dự lễ sẽ bị trừng phạt nặng nề. Trong buổi lễ, tất cả các quan phải mặc nhung phục, xếp thành hàng ngũ chỉnh tề và ra đền đọc lời tuyên thệ:

“Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết.”

Đặc biệt, hội thề này diễn ra công khai trước sự chứng kiến của đông đảo dân chúng. Nghĩa là giữa tầng lớp quan lại quý tộc và nhân dân, tựa hồ đã có một sự cam kết ngầm với nhau: Nhân dân củng cố thêm lòng tin ở tầng lớp cai trị mình, cũng như chính những vị phụ mẫu-rường cột nước nhà thêm một lần khẳng định lại lý tưởng và trách nhiệm nặng nề cần phải gánh vác. Vô hình chung, việc ấy rút ngắn khoảng cách giữa hai giai cấp chính yếu, gián tiếp kéo họ xích lại gần nhau trong mối quan hệ đồng là con dân nước Việt.

Đấy chưa phải là một hình thức hội nghị duy nhất trong lịch sử nhà Trần. Nếu nói về hào khí Đông A, có lẽ nó phải được thể hiện rõ nét hơn ở Hội nghị Bình Than, và cao nhất, là Hội nghị Diên Hồng; cả hai đều diễn ra trong quá trình tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai năm 1285.

Sử cũ ghi lại, trước khi cho quân tràn xuống nước ta, nhà Nguyên đã nhiều lần phái sứ giả đến triều đình Đại Việt, dùng những lời lẽ hăm dọa xấc xược và thô bạo để phô trương thanh thế, có ý đồ cướp nước ta mà không động binh đao. Nhưng chúng đã sai lầm! Nhà Trần không những không mảy may nao núng, ngược lại còn hạ lệnh tống giam bọn sứ giả, đồng thời lập tức cho điều động binh sĩ đến trấn giữ biên ải và các nơi hiểm yếu, sẵn sàng tư thế cho cuộc chiến tranh vệ quốc chắc chắn nổ ra.

Điều ấy chứng tỏ, ngay từ đầu, vua tôi nhà Trần đã có một khí phách rất hiên ngang, vững vàng; cho dù từ trước đó, chắc chắn họ đều biết rõ những cuộc xâm lăng, bình định tàn bạo mà quân Mông Cổ đã tiến hành trên khắp thế giới.

Nhà thơ V.Frik đương thời có thơ rằng:

“ Không còn một dòng suối, một con sông nào
không tràn đầy nước mắt chúng ta;
Không còn một ngọn núi, một cánh đồng nào
không bị quân Tác-ta giày xéo.”

( Danh tướng Việt Nam-Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần)

Vậy thì cái gì đã làm nên sự tự tin to lớn ấy? Tại sao vua tôi một nước Đại Việt nhỏ bé lại dám có tư tưởng sẽ đứng lên phản kháng lại vó ngựa bất bại một quân đội từng là nỗi khiếp sợ của Nga, của Trung Quốc, của Pháp, của La Mã,…của toàn nhân loại thế giới khi ấy?

Phải chăng, lòng yêu nước đã hun đúc nên gan sắt dạ đồng, tình đoàn kết đã thâu tóm nhân tâm, tạo thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho họ? Vẫn còn đấy không khí hào hùng bất diệt: một trận Bạch Đằng chấm dứt gần ngàn năm Bắc thuộc của Ngô Quyền, một phòng tuyến Như Nguyệt với bài thần thi đanh thép khẳng định chủ quyền quốc gia mà Lý Thường Kiệt quét tan quân Tống…

Cha ông xưa chưa từng biết cúi đầu, lẽ nào hôm nay Trần triều ta khiếp nhược? Vậy là cuộc đọ sức lịch sử của quân dân Đại Việt và bộ tộc Tartare (Thát-đát) đã chính thức được châm ngòi!

 

Cuộc ác chiến đầu tiên diễn ra tại chiến trường Bình Lệ Nguyên. Không rõ chính xác lực lượng phía quân Trần lúc đó là bao nhiêu, nhưng Nguyên tướng Ngột Lương Hợp Thai đã theo sông Hồng kéo sang nước ta tổng cộng khoảng ba vạn kị binh và bộ binh- một con số khổng lồ!

Lựa chọn Bình Lệ Nguyên làm nơi giao tranh, có lẽ là một quyết định thật sự sai lầm của Đại Việt ta lúc này. Bởi các chiến binh Mông Cổ chuyên sống trên lưng ngựa lại gặp địa hình trung du như Bình Lệ Nguyên đây thì có khác gì cá gặp nước, hổ về rừng, mặc sức tung hoành phát huy sở trường chiến đấu!

Chính vì quyết định sai lầm ấy mà suýt chút nữa, toàn bộ giang sơn đã rơi vào tay giặc. Trước tình thế nguy hiểm hiển hiện, Trần Thái Tông có ý định dốc toàn bộ lực lượng sống mái với kẻ thù. Tự ông thân chinh đốc chiến, xông pha giữa trận tiền, mặc cho lòng quân đã hơi nao núng. Lúc biến không lung, lúc nguy không sờn quả là bản lĩnh rất đáng khâm phục của người đứng đầu thiên hạ. Nhưng đó cũng là ý định thiếu sự cân nhắc, dễ dàng chuốc lấy thất bại.
Nếu Trần Thái Tông không có một hổ tướng Lê Tần phò giá, Đại Việt không có một minh thần như Lê Tần sáng suốt dâng kế lui binh, cục diện lịch sử có thể đã hoàn tàn thay đổi.

Một mặt, hậu thế phải kính nể ông là người hết lòng trung quân ái quốc, dám tả xung hữu đột giữa chiến địa giết giặc không chút ngại ngần. Mặt khác, ta cần trân trọng sự thẳng thắn cương nghị của Lê Tần, dám can gián nhà vua, phê phán kịch liệt quyết định sai lầm: dốc toàn quân ra sống mái với giặc Nguyên. Sự thẳng thắn ấy mấy bậc bề tôi đã có được đâu! “Quân lệnh như sơn”, lời tướng bảo như đanh đóng cột; huống hồ vị chủ tướng ở đây cũng là đương kim hoàng thượng; mà quyền thiên tử há ai dám nghịch?

Chính Lê Tần đã đem tính mệnh của mình lên bàn cân, với phía bên kia là non sông và con dân Đại Việt…Câu trả lời đã hết sức tường minh. Nếu không phải là đấng anh hùng dũng khí, Lê Tần không thể nói được những lời tận đáy tâm can như vậy. Và nếu không phải là người có dũng khí phi phàm, ông cũng không thể nào đưa ra quyết định lui binh đầy sáng suốt trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc đó.

Qua câu chuyện lịch sử thời Trần này, chúng ta đã lưu lại những bài học giá trị. Không phải lúc nào sự hiên ngang quả cảm cũng có thể mang lại thắng lợi, cũng như không phải lúc nào lòng trung nghĩa cũng là tiêu chuẩn thông minh để đánh giá một bậc làm tôi.

Dù Trần Thái Tông xứng đáng với vị trí minh quân, nhưng ông cũng có khi sai lầm. Nhưng người đã kịp nhận ra cái sai ấy của mình và Trần Thái Tông đã dẹp bỏ được lòng tự tôn của bậc quyền cao tối thượng, vua tôi tương hợp, một lòng vì dân vì nước!

Trong tháng ngày gian khổ, có lúc phải bỏ cả Thăng Long thành mà lui mãi về Thiên Mạc Hà đóng binh ấy, quyết tâm và tinh thần bất khuất của quân dân Trần mới thực sự tỏa sáng rực rỡ nhất.

Làm sao chúng ta quên Thái sư Trần Thủ Độ với lời nói khẳng khái, tràn đầy chí khí: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo!”. Chỉ là một lời nói, nhưng đủ sức đánh bật mọi sự yếu lòng, mọi lo lắng của quân thần, kịp thời củng cố mạnh mẽ chiến ý toàn binh. Tấm gương tiết tháo ấy chưa phải đã là duy nhất dưới thời đại nhà Trần. Có thể nói thời thế tạo anh hùng, hay chính một đất nước, một triều đại anh hùng kiêu dũng đã sản sinh ra những người con ưu tú.

Lê Tần khởi xướng việc lui binh, đương thời có sự ủng hộ đầy kiên quyết của Trần Thủ Độ, đã đặt nền tảng cho binh kế “thanh dã”-vườn không nhà trống mà sau này, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và nhiều vị tướng lĩnh khác của dân tộc đã kế thừa và nâng lên thành một nghệ thuật đánh giặc vô cùng độc đáo. Binh kế này là nguyên nhân chủ quan quan trọng nhất làm nên chiến thắng Nguyên Mông lần thứ nhất của nhà Trần.

Tưởng lùi một bước, nào ngờ tiến thêm hai bước. Quân Nguyên viễn chinh chiếm được Thăng Long, ngỡ đâu phen này đã bình định được nước Nam. Chẳng dè kinh đô giờ đây im lìm hoang vắng, hoàng tộc và dân chúng đã rút khỏi đó từ lúc nào. Lương thực không có, lại thêm thủy thổ khác biệt, bệnh dịch hoành hành, bọn ngoại bang bị đẩy vào tình thế gay go không kém gì quân nhà Trần ngày nào trên chiến tuyến Bình Lệ Nguyên.

Đúng vào lúc thời cơ đã chín muồi, Trần Thái Tông hạ lệnh tổng phản công.

Một trận đánh ác liệt nữa lại diễn ra tại khu vực Đông Bộ Đầu (nay là khu vực dốc Hàng Than, đầu cầu Long Biên-Hà Nội). Và lần này, sức mạnh hợp quần đoàn kết của quân đội Trần triều đã phát huy toàn bộ. Ba vạn quân Nguyên tan tác, Ngột Lượng Hợp Thai- kẻ từng gieo rắc kinh hoàng khắp Ba Lan, Đức và Trung Quốc- cũng phải tháo chạy nhục nhã trước sự phản công như vũ bão của quân ta. Chẳng những thế, trên đường rút lui, chúng lại tiếp tục bị các đội dân binh, đặc biệt là các đội dân binh của nhưng dân tộc ít người, phục kích, giáng cho nhiều đòn chí mạng. Người đương thời đã mỉa mai chế giễu bọn tàn binh này bằng cái tên “Giặc Phật”, bởi chúng đã khiếp đảm đến nỗi dù đói khát cùng cực, cũng không dám tính chuyện dừng lại cướp lương thực để ăn.

Thê thảm thay, xấu hổ thay!

Thắng lợi đầu tiên này là thắng lợi chung của tập thể quân dân Đại Việt, thắng lợi của lòng yêu nước và khí phách ngoan cường, thắng lợi của những tài năng quân sự kiệt xuất, được trui rèn, tích lũy qua quá trình giữ nước lâu dài. Mùa xuân Mậu Ngọ năm ấy, kinh thành Thăng Long náo nức tưng bừng hơn bao giờ hết! Dư âm của thời kỳ đó còn mãi vang vọng trong những lời thơ của vua Trần Nhân Tông:

“Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong “

Nghĩa là:

“Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong”

( Nguyên Phong tức là niên hiệu do vua Trần Thái Tông đặt ra từ năm 1251. )

 

 

Dù đã chuốc lấy kết cục thảm bại của những kẻ xâm lăng Tổ quốc của người khác, nhưng lũ giặc Nguyên vẫn không từ bỏ ý định thôn tính nước ta.

Năm 1261, Hốt Tất Liệt lên ngôi Hoàng đế, phong vua Trần Thánh Tông ( Trần Hoảng, con vua Trần Thái Tông) làm An Nam Quốc Vương, đồng thời đòi đặt Đạt Lỗ Hoa Xích (chưởng ấn) người Mông Cổ bên cạnh triều đình nhà Trần, có quyền đi lại giám sát các châu quận của nước Nam.

Dĩ nhiên, Trần Thánh Tông thẳng thừng bác bỏ, đồng thời đôn đốc việc luyện võ tu binh vì biết rõ âm mưu gây hấn có mục đích không lấy gì làm tốt đẹp của bọn chúng. Trong thời gian nhà Nguyên liên tục phái sứ giả sang triều đình nước ta nhũng nhiễu, hạch sách, sử cũ đã ghi nhận một câu chuyện, qua đó thêm lần nữa khẳng định khí phách hiên ngang của vua Trần nói riêng và triều Trần hay Đại Việt ta nói chung.

Năm 1268, một sứ bộ nhà Nguyên đem chiếu thư sang Thăng Long thành. Khi tuyên đọc chiếu thư trước long điện, hắn thấy Trần Thái Tông không chịu quỳ lạy chiếu chỉ, đã tỏ thái độ tức giận, hỏi:

- Sao nhà vua không quỳ lạy chiếu chỉ của hoàng đế?
- Nước tôi trước đã nhận được chiếu của Hoàng Đế, nói: “Phàm áo mũ, điển lễ phong tục cứ theo chế độ cũ của nước mình, không phải thay đổi”. Nhận chiếu không quỳ lạy, đó là điều lệ cũ, sao sứ giả lại nói tôi làm trái ý hoàng đế.

Thái độ của vua Trần chính là biểu hiện của lòng yêu nước, của sự tự tôn dân tộc. Nước Đại Việt dù nhỏ bé, nhưng cũng là một quốc gia có vua, có chủ quyền, có lịch sử; thì cớ gì phải chịu quỳ lạy một tờ chiếu chỉ vô tri của tên vua đứng đầu một ngoại quốc từng đem quân sang giẫm đạp lên quê cha đất tổ chúng ta?

Chính tư thế anh dũng bất khuất ấy là nguyên nhân cho lần xâm lược thứ hai diễn ra sau khi nhà Nguyên đã thôn tính xong Trung Quốc và đang ở thời kỳ sung mãn nhất. Hốt Tất Liệt sai con trai là Thoát Hoan dẫn năm mươi vạn quân tràn sang biên giới nước ta.

Năm mươi vạn! Phải nhớ lại rằng khi ấy, dân số Đại Việt ta cũng chỉ vào khoảng ba triệu người. Tức là nếu tính bình quân, cứ sáu người dân Đại Việt bất kể già trẻ gái trai…, phải đương đầu với một tên giặc Nguyên khát máu. Tự cổ chí kim trong lịch sử Đông Tây, chưa hề có một cuộc đối đầu nào không cân xứng đến như vậy!

Năm 1282, tin mật báo về, quân Nguyên hợp binh ở biên giới, chuẩn bị xâm lược nước ta. Ngay sau đó, các vương hầu tôn thất nhà Trần được mật lệnh về Bình Than triều kiến nhắm hoạch định chiến lược chống xâm lăng.

Cũng trong buổi hội này, thế hệ trẻ Việt Nam đã có dịp thể hiện bản lĩnh của mình, qua hình ảnh người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản.

“Hoài Văn tuổi trẻ, chí cao
Cờ đề sáu chữ, quyết vào lập công”

(Đại Nam quốc sử diễn ca)

Lòng yêu nước và khát vọng được chiến đấu, được hi sinh vì quê hương, có bao giờ đợi tuổi ? Quả cam hôm nao nhũn nát trên tay Trần Quốc Toản là một chứng minh đầy sống động cho sự căm tức vì tinh thần yêu nước bị xem thường, cả giận bởi chí dũng ngất trời không được mọi người thấu tỏ, lại xấu hổ cho tuổi đời còn quá trẻ của bản thân đã khiến mình không được đứng vào hàng ngũ đoàn quân vệ quốc.

Vì thế, chàng đã tự trở về tập hợp gia nô hơn một nghìn người, mua sắm khí giới chiến thuyền, ngày đêm luyện tập võ nghệ lược thao. Để rồi đội quân “tự giác” ấy đã trở thành một đội quân thiện chiến bậc nhất, luôn sát cánh với quân chủ lực của triều đình, lập nên bao chiến công hiển hách.

Không thể nói Trần Quốc Toản vì lòng tự ái cá nhân mà quyết tâm thể hiện. Trước sau như một, chàng trai ấy chỉ có một mong muốn tột bậc là được chiến đấu trên sa trường, đáp đền nợ nước ơn vua. Tấm lòng trung quân ái quốc ấy đã theo lá cờ “Phá cường địch, báo hoàng ân” của chàng đi đầu trong mọi cuộc giao tranh, khí thế trùng trùng khiến Nguyên quân bao phen bạt vía.

Sau hội nghị Bình Than, bước đầu nhà Trần đã thiết lập được khối đoàn kết của các quý tộc và tướng lĩnh cao cấp. Nhưng đúng như tinh thần của hội nghị, vấn đề bức thiết nhất đặt ra vẫn là làm sao để khối đoàn kết ấy lan rộng ra toàn dân, huy động được sự ủng hộ của nhân dân trong cuộc kháng chiến.

Nhận định về ý nghĩa của hội nghị này, sử gia Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư rằng:

“ Giặc Hồ (tức giặc Nguyên) tràn vào cướp, ấy là nạn lớn của quốc gia. Hai vua (tức Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) cùng hợp mưu, bề tôi cùng họp bàn, há chẳng có kế sách gì hay sao mà phải ban yến để hỏi ý các bậc phụ lão? Ấy chẳng qua cũng vị Thánh Tông muốn nhân đó để xét lòng thành ủng hộ của dân và cũng để dân nghe lời dụ hỏi mà cảm kích để rồi hăng hái hơn đó thôi. Làm như vậy là giữ được cái đức của người xưa, trong người già để xin lời hay vậy.”

Vua Trần đúng thực là những vị vua luôn thương dân như con, hết sức thấu hiểu lòng dân. Tiếng nói của những bậc phụ lão lúc nào cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ, nhất là trong xã hội trung đại còn sùng Nho giáo thời bấy giờ.

Hội nghị Diên Hồng năm 1285 thành công, triều Trần đã nắm được lực lượng có vị trí và vai trò chi phối xã hội. Hơn thế nữa, hội nghị diễn ra vào thời điểm ngày Tết Nguyên Đán đã cận kề-thời điểm dễ dàng khơi dậy lòng tự hào dân tộc và đẩy ý chí chiến đấu vì độc lập của toàn dân lên cao nhất.

Ngày Tết cổ truyền của nước ta rồi sẽ ra sao nếu quân Nguyên chiếm được đất tổ quê cha? Còn đâu thanh bình, còn đâu tự do, còn đâu những phong tục tập quán mang đậm màu sắc dân tộc? Phải đánh, đánh để giữ tôn miếu giang sơn, giữ cơ nghiệp của mỗi nhà.

Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép lại không khí của buổi hội nghị này như sau:
“ Các cụ phụ lão đều hô quyết đánh, vạn người như một, tiếng vang như cùng bật ra từ một cửa miệng.”

Và…linh hồn của những chiến công hiển hách nhất thế kỷ XIII của lịch sử nước nhà- Đức Thánh Trần, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn- đã kịp thời biên soạn và phổ biến tác phẩm “Hịch tướng sĩ” của mình. Bài hịch tràn đầy nhiệt huyết, tràn đầy khí thế quyết chiến quyết thắng; xứng đáng là tác phẩm tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước cao đẹp của thời đại Đông A.

Tác giả của nó cũng là một nhà quân sự kiệt xuất, một người anh hùng dân tộc, một tấm gương yêu nước mẫu mực trong lịch sử Việt Nam.

Câu nói khó quên trong cuộc đời của Trần Hưng Đạo chính là lời trước vua Trần Thánh Tông năm 1285:

“Bệ hạ chém đầu thần trước rồi hãy hàng.”

Trong “Hịch tướng sĩ”, ông cũng đã thể hiện tấm lòng yêu nước nồng nàn của bản thân:

“ Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thần này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.”

Tuy là một bài hịch được viết theo thể chính luận, nhưng “Hịch tướng sĩ” lại là một sự kết hợp nhuần nhuyễn những luận điểm, dẫn chứng đầy sức thuyết phục…với cảm xúc, thái độ chân thành của người viết. Chính vì vậy, nó không chỉ dừng lại ở vị trí một văn kiện quân sự, mà thực sự còn là một áng thiên cổ hùng văn, có giá trị bất diệt trong nền văn học nước nhà. Kết thúc tác phẩm, một lần nữa Trần Hưng Đạo vương đã khẳng định: Khi quốc biến gia nguy, lẽ sống thiêng liêng nhất của mỗi người dân chính là cầm vũ khí đứng lên giết giặc.

Ngọn lửa đã thực sự bùng lên! Thanh niên binh sĩ khắp nơi đua nhau thích lên tay hai chữ “Sát Thát”- tượng trưng cho ý chí cùng sinh tử với giặc Nguyên đến hơi thở cuối cùng.

Dân nước Việt đã có tục xâm mình từ thời xưa, như một biểu tượng của tôn giáo, thờ thần biển, thần sông; hoặc như một tín ngưỡng tâm linh, dùng hình xăm để hộ thân trước thuồng luồng thủy quái trong cuộc sống gắn liền cùng sông nước. Trên thế giới, người châu Phi hay người da đỏ cũng có tục lệ xăm mình, biểu thị sức mạnh của các chiến binh.

Nhưng chỉ đến triều đại Đông A, hình xăm với hai chữ “Sát Thát” ấy mới thực sự mang ý nghĩa cao đẹp của lòng tự hào dân tộc. Nó đã chuyển tải sức mạnh của thời đại, của lịch sử cho những chiến sĩ Trần triều anh dũng, giúp họ có thêm niềm tự tin và ý chí quyết thắng khi đương đầu với một trong những kẻ thù hùng mạnh và tàn ác nhất từ trước đến nay của nước Việt.

Những binh lính ấy cũng biết được rằng, nếu lỡ sa vào tay giặc, việc có hình xăm “Sát Thát” trên tay đồng nghĩa với bản án tử hình đợi sẵn. Nhưng họ không hề e sợ.

Ngay cả Đỗ Khắc Chung, khi đem thư (vờ) xin giảng hòa đến trại tướng giặc Ô Mã Nhi, còn ung dung đưa cánh tay có hình xăm cho hắn xem và nói rằng:

_ Quân dân nước tôi vì lòng trung phẫn mà tự thích chữ vào cánh tay….Tôi là trung thần, há lại không có hai chữ đó hay sao?

(Đại Việt sử ký toàn thư)

Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Trần Quốc Toản và hình xăm “Sát thát” ấy, có thể được xem là hai biểu tượng đẹp nhất tiêu biểu cho hào khí Đông A bất diệt thiên thu. Cho dù là nam phụ lão ấu, binh sĩ hay vua tướng Trần triều, đều đi vào lịch sử với những nét đẹp rạng ngời được truyền tụng từ đời này sang đời khác. Trần Bình Trọng trung kiên giữ gìn tiết tháo, cho đến khi đứng trong hang ổ quân thù, vẫn quả cảm thét lên :

_ Ta thà làm ma nước Nam chớ không thèm làm vương đất Bắc!

Lòng yêu nước đã thấm nhuần vào trong tim óc, sống làm người nước Việt thì chết cũng làm ma nước Việt. Được mang dòng máu đỏ hào hùng bất khuất của ông cha Việt quốc truyền lại, là niềm tự hào, là lý tưởng sống và chiến đấu cả cuộc đời Trần Bình Trọng.

Và khi đã nhắc đến những tướng lĩnh tài ba kiêu hùng của thời đại Đông A, chắc chắn không thể quên tên tuổi của bộ ba tướng lĩnh: Trần Khánh Dư-Trần Nhật Duật-Trần Quang Khải.

Trần Khánh Dư triệt phá toàn bộ đoàn thuyền tải lương của quân Nguyên trong cuộc xâm lược lần thứ ba. Trần Nhật Duật với trận Hàm Tử, Trần Quang Khải với trận Chương Dương ác liệt kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lần thứ hai.

Đặc biệt, cuộc đời của mỗi vị tướng này, đều có những sự kiện, nhưng giai thoại đầy thú vị. Như Trần Khánh Dư, từng là Thiên Tử Nghĩa Nam của vua Trần Thánh Tông bởi là bậc trí dũng hơn người, nhưng cũng có lúc đắc tội bị giáng xuống làm thứ dân, làm một kẻ bán than nghèo khó. Trần Quang Khải, vừa là tướng võ vừa là quan văn, lưu truyển cho hậu thế tác phẩm “Tụng giá hoàn kinh sư”:

“Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san.”

Còn Trần Nhật Duật, ông nổi tiếng với học vấn quân sự lẫn văn hóa uyên thâm, thông hiểu ngôn ngữ và phong tục tập của nhiều dân tộc khác nhau. Đương thời, ông được rất nhiều người kính nể. Không ít người Trung Quốc lưu vong khi thất bại trong cuộc chiến chống Nguyên-Mông, chạy sang lánh nạn ở nước ta đã tình nguyện theo về chiến đấu dưới trướng của Trần Nhật Duật.

Ấy là chưa kể đến những tùy tướng tài giỏi dưới trướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Phạm Ngũ Lão với đội quân luôn đoàn kết nghĩa tình sống và chiến đấu bên nhau, nức tiếng xa gần “Phụ tử chi binh-Huynh đệ chi binh”.

Chàng Yết Kiêu khi thua trận vẫn nhất quyết cắm thuyền ở lại chiến trường, đợi thấy Hưng Đạo Vương mới chịu dời đi. Cùng với chàng là Dã Tượng, hai người đã nêu tấm gương sáng ngời cho hậu thế về lòng trung thành, về dũng khí của người lính và về ý thức kỉ luật chiến đấu rất cao.

Đó là những đức tính cần thiết của những người hợp thành một đội quân đoàn kết, thống nhất, bách chiến bách thắng Trần triều. Hưng Đạo Vương từng khen ngợi họ - những chỗ dựa tin cậy của mình-rằng:

_ Ôi! Chim hồng, chim hạc sở dĩ có thể bay cao, bay xa là nhờ ở sáu trụ xương cánh. Nếu như không có sáu trụ xương cánh ấy thì chim hồng, chim hạc cũng như chim thường mà thôi.

Cũng chính Trần Hưng Đạo, vị Quốc công tiết chế chịu trách nhiệm hoàn toàn về tổ chức quân sự, nắm giữ vận mệnh quốc gia, đã ban lệnh khắp cả nước rằng:

“Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến, phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng.”

(Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông thế kỷ XIII-Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm)

Như vậy, nhiệm vụ đánh giặc cứu nước gần như đã trở thành một nghĩa vụ, là một điều được qui định trong pháp luật. Sắc lệnh này của Trần Hưng Đạo quả là có tác dụng rất lớn.

Sử cũ còn chép lại rằng:

“Người nào đã đầu hàng giặc, thì giờ đây, dẫu đang ở trên đất giặc cũng bị kết án vắng mặt, hoặc khép tội lưu, hoặc khép tội xử tử và tịch thu gia sản sung công.”

Chính nhờ đó mà sau này xét lại, cả nước lúc ấy chỉ có hai làng Bàng Hà và Ba Điểm (đều thuộc Hải Dương ngày nay) là vi phạm sắc lệnh. Ngoài ra, toàn quốc toàn dân đều theo đó thi hành, đồng loạt nhất tề kháng chiến đi đến ngày thắng lợi cuối cùng.

 

Thua đau trong hai cuộc xâm lược lần trước, đến cuối năm 1287, Hốt Tất Liệt lại ra lệnh đình chỉ cuộc chiến tranh thôn tính Nhật Bản để tập trung đánh chiếm Đại Việt. Binh lực lần này cũng vào khoảng năm mươi vạn như lần thứ hai, nhưng xét kỹ, cuộc xâm lăng lần này đã được quân nhà Nguyên chuẩn bị một cách công phu và chặt chẽ nhất.

Với chúng, không chỉ còn là một cuộc chiến tranh xâm lược bình thường mà thật sự là một trận chiến để rửa nhục. Nhưng với bọn sài lang ấy, nhục chỉ càng thêm nhục! Vì đối thủ của chúng là Đại việt, là Trần triều; chứ không phải là Pháp, Đức, Trung Quốc…hay bất cứ một quốc gia, dân tộc nào khác.

Rút kinh nghiệm từ thất bại của hai lần xâm lược trước, Hốt Tất Liệt ra lệnh thành lập một đội thuyền lương, giao cho Trương Văn Hổ chỉ huy theo sát đại quân, nhất quyết không đễ rơi vào kế “Thanh dã” của chúng ta lần nữa.

Nhưng “Thanh dã” là một độc kế rất có hiệu quả, giặc càng muốn né tránh, ta lại càng quyết tâm đẩy chúng vào con đường này.
Vì vậy, Trần Khánh Dư đã cho quân phục kích tại Vân Đồn, truy đuổi đoàn thuyền lương này vô cùng ráo riết. Với quyết tâm cao độ dường ấy của quân nhà Trần, Trương Văn hổ không thể nào hoàn thành được trọng trách được giao. Hầu như toàn bộ đoàn thuyền của hắn đã mất vào tay Trần Khánh Dư, làm xoay đổi hoàn toàn cục diện cuộc chiến, khác xa so với dự tính ban đầu của Hốt Tất Liệt.

Chúng chỉ còn biết rút lui. Bởi không lương thảo mà vẫn nhất quyết động binh, khác nào tự dấn thân vào cửa tử như hai lần trước.

Tôn Tử - nhà binh pháp có ảnh hưởng mạnh nhất với các tướng linh quân sự phương Đông - chủ trương rằng:

“ Hễ địch rút lui về nước thì không nên bao vây ngăn chặn. Khi tiến hành bao vây địch thì nên để hở một phía chứ không nên vây kín. Nếu đối phương đến lúc khốn cùng thì cũng không nên bức bách họ quá…”

(Đại Việt sử ký toàn thư)

Nhưng Trần Hưng Đạo lại chủ trương ngược lại. Bằng chứng là kế hoạch chiến lược của ông từ đầu chí cuối là dồn quân Nguyên vào thế phải rút lui, rồi tổ chức những trận đánh quyết định đón giặc trên đường tháo chạy đó. Và trận chung kết hào hùng của cuộc kháng chiến lần này chính là trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng do đích thân Trần Hưng Đạo chỉ huy, tiếp tục kế thừa những gì Ngô Quyền và Lê Hoàn đã làm.

Khi đó nước triều còn cao, che lấp những dãy cọc đóng trong lòng sông. Quân Trần đem thuyền ra khiêu chiến rồi giả thua tháo chạy. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp thừa thắng dẫn binh thuyền đuổi theo. Nước triều xuống thấp, đoàn thuyền của Ô Mã Nhi xô phải cọc, dồn ứ cả lại, nhiều chiếc bị cọc đâm chìm. Chỉ chờ có vậy, phục binh của ta ở hai bên bờ đổ ra, đánh thẳng vào mạng sườn và phía sau đoàn thuyền địch. Nguyễn Khoái đem quân dũng nghĩa Thánh Dực đến giao chiến với giặc. Tiếp đó, hai vua Trần và Hưng Đạo Vương cũng dẫn đại quân đến. Một trận kịch chiến ác liệt xảy ra trên sông Bạch Đằng.

"...Bấy giờ
Muôn dặm thuyền bè, tình kỳ phấp phới
Sáu quân oai hùng, gươm đao sáng chói
Sống mái chưa phân, Bắc Nam lũy đối
Trời đất rung rinh chừ sắp tan
Nhật nguyệt u ám chừ mới tối…”
(Bạch Đằng Giang phú – Trương Hán Siêu)

Ô Mã Nhi Bạt Đô, tên tướng tàn ác mang danh hiệu “Dũng sỹ” ấy, không thể nào chống cự nổi sức tấn công mãnh liệt của quân ta. Tuy Phàn Tiếp đã cố gắng “chiếm lấy núi cao làm ứng,” tình thế vẫn không thể xoay chuyển khác được. Dưới trận mưa tên của quân Đại Việt, thủy binh giặc chết rất nhiều. Máu đỏ ngầu cả khúc sông. Nước triều rút ngày càng gấp, chiến thuyền giặc vướng cọc, bị phá hủy ngày càng nhiều. Đến chiều, toàn bộ chu sư của Ô Mã Nhi đều bị tiêu diệt. Viên vạn hộ thủy quân Trương Ngọc tử trận. Phàn Tiếp bị trọng thương, nhảy xuống sông, bị quân ta lấy câu liêm móc lên bắt sống. Bản thân tên tướng chỉ huy Ô Mã Nhi cũng phải chịu trói. Thủy quân giặc bị giết, chết đuối, và bị bắt vô số kể. Hơn bốn trăm thuyền giặc lọt vào tay quân ta…

(Trích “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông – Thế kỷ XIII” của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm )

 

 

 

Chính vì là trận quyết chiến cuối cùng nên tham gia ở Bạch Đằng Giang lần này bao gồm những đội quân chủ lực tinh nhuệ nhất của triều đình, quân của các vương hầu quý tộc và rất nhiều đội dân binh. Chỉ huy trận đánh ngoài Trần Hưng Đạo, còn có Thượng hoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông, các danh tướng như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái…v.v. Lịch sử một lần nữa lập lại trên con sông huyền thoại này. Đó cũng là bản án thích đáng cho lũ xâm lược.Giấc mộng bá chủ phương Nam của bọn Nguyên-Mông hoàn toàn bị đè bẹp, nhục nhã đến muôn đời:

“Đến nay, nước sông vẫn chảy hoài
Mà nhục quân thù không rửa hết.”
(Bạch Đằng giang phú-Trương Hán Siêu)

Sau thất bại này, nếu tên tuổi của Thoát Hoan và hàng loạt những tên tướng giặc nhà Nguyên ê chề nhục nhã bao nhiêu, thì tên tuổi của Trần Hưng Đạo và nhà Trần lại thêm rựa rỡ, lẫy lừng bấy nhiêu.

Có một câu đối khuyết danh vẫn còn lưu truyền đến bây giờ rằng:

“Địa chuyển ngã Việt chủng cư Bắc phương, Âu châu cảnh nội vô Mông kỵ tung hoành thiên vạn lí,
Thiên sinh thử lương tài ư Tống thất, Trung Quốc sử tiền miễn Nguyên triều đô hộ nhất bách niên”

( Nghĩa là: Nếu dân Việt mà sinh ở phương Bắc thì các nước châu Âu đâu đến nỗi bị vó ngựa Mông Cổ chà đạp hàng ngàn dặm
Ví thử trời sinh bậc thiên tài này ở nhà Tống thì lịch sử Trung Quốc trước đây làm gì có chuyện bị nhà Nguyên đô hộ một trăm năm)

Vậy là mối đại họa lớn nhất trong lịch sử nước ta đã bị đánh bật. Vua tôi nhà Trần hào hùng anh dũng mãi đi vào lòng người với những công lao rạng ngời.

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”

(Trần Nhân Tông)

Trần triều đã làm nên kỳ tích. Nhưng đấy không phải chỉ là sự may mắn tùy thuộc ở số trời. Từ thuở khai triều, những vị vua quan nhà Trần đã không ngừng thực hiện nhiều kế hoạch củng cố nhân tâm và lực lượng, biến không thành có, biến có thành vững mạnh lớn lao.

Nội bộ Trần triều thực chất cũng nảy sinh không ít những mâu thuẫn, những xáo trộn….nhưng trên tất cả, họ biết dẹp bỏ cái riêng tư để toàn tâm toàn ý cho cái chung là nhân dân., là giang sơn xã tắc. Tại thời điểm ấy, có thể chính bản thân những con người của Đông A triều chưa hẳn nhận ra những tiến bộ vượt bậc trong đường lối thực hiện cuộc chiến tranh cứu quốc của mình; nhưng hậu thế chúng ta ngày nay khi nhìn lại, phải thực sự khâm phục những thành tựu đặc sắc ấy.

Tập hợp được cả lực lượng lẫn lòng người bằng nhiều biện pháp tích cực và khôn khéo, thôi thúc được tinh thần yêu nước bất diệt và kiên trung hào khí trong mọi tầng lớp quý tộc và nhân dân, có lẽ chính là thành công lớn nhất trong lịch sử triều đại này. Mỗi câu chuyện, mỗi tấm gương về con người Đông A đều xứng đáng là bài học sâu sắc cho đời sau noi theo.

Triều Trần-triều đại của kỳ tích và huyền thoại!
Đông A-hào khí của Đại Việt trường tồn!

 

Trần Quang Kim Sơn (ST)